NGẪM

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2026

Nguyên mẫu nhân vật trong bài thơ " Quê hương"

 


Một chiều năm 1960, tại căn cứ Hòn Dù, cách thành phố Nha Trang hơn 40 cây số, nhà thơ Giang Nam được Phó Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa gọi đến căn chòi giữa rừng.

Khi ấy, Giang Nam đang là Phó Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy.
Theo hồi ký Sống và viết ở chiến trường, sau những lời hỏi thăm sức khỏe, công việc, Phó Bí thư Tỉnh ủy thông báo vợ và con gái nhỏ của Giang Nam đã bị giặc bắt giam rồi thủ tiêu.
Giang Nam bàng hoàng. Ông đã xa vợ con hơn một năm, không biết họ sống chết thế nào. Bây giờ, tin tức đầu tiên nhận được lại là tin cả hai không còn nữa.
Đêm ấy, trong căn chòi giữa rừng, bên ngọn đèn dầu che kín ba mặt để tránh lộ ánh sáng, Giang Nam viết một mạch bài thơ Quê hương.
Trong bài thơ có hai câu khiến nhiều thế hệ người Việt Nam nhớ mãi:
“Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích em ơi!”
Những câu thơ ấy bắt nguồn từ nỗi đau thật của người chồng tưởng đã mất vợ con.
Nhưng sự thật sau này lại diễn ra theo một hướng hoàn toàn khác.
Người phụ nữ mà Giang Nam tưởng đã chết vẫn còn sống.
Tên bà là Phạm Thị Chiều, sinh năm 1931, quê ở Vĩnh Trường, Nha Trang, Khánh Hòa.
Bà lớn lên trong một gia đình làm nghề chế biến nước mắm, có truyền thống cách mạng.
Theo lời Giang Nam, khoảng 15 - 16 tuổi, bà Chiều đã lên chiến khu, làm văn thư tại Văn phòng Tỉnh ủy Khánh Hòa.
Đó cũng là nơi bà gặp Nguyễn Sung, tức nhà thơ Giang Nam sau này.
Chuyện tình của họ bắt đầu từ những lần chàng thanh niên làm công tác tuyên truyền mang giấy tờ sang Văn phòng Tỉnh ủy.
Giang Nam kể rằng ông tìm cớ qua lại để được gặp cô gái mình có cảm tình.
Cuối cùng, ông lấy hết can đảm viết một lá thư tỏ tình, kẹp vào tập công văn đưa cho bà.
Nhiều năm sau, khi nhắc lại chuyện ấy, nhà thơ vẫn nhớ đó là lá thư tình duy nhất ông gửi cho bà Chiều.
Họ nên duyên vợ chồng vào khoảng thời gian Hiệp định Genève năm 1954 được ký kết.
Theo hồi ức của Giang Nam, đám cưới được đồng đội tổ chức đơn sơ tại chiến khu. Hai vợ chồng mới sống bên nhau được hai ngày thì ông phải lên đường nhận nhiệm vụ.
Sau năm 1954, cả hai tiếp tục ở lại miền Nam hoạt động cách mạng. Có thời gian cùng ở Nha Trang nhưng vì công việc bí mật, họ không được gặp nhau.
Đến năm 1958, tổ chức chuyển hai vợ chồng vào hoạt động tại Biên Hòa.
Họ thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo. Giang Nam làm thuê, còn bà Chiều buôn bán để che giấu hoạt động cách mạng.
Những ngày tháng ấy, hai người có con gái đầu lòng, cũng là người con duy nhất, sau này được biết đến với tên Nguyễn Thị Mỹ Trang.
Nhưng cuộc sống gia đình chẳng kéo dài được bao lâu.
Giang Nam được điều trở lại chiến khu Khánh Hòa. Bà Chiều ở lại nuôi con, tiếp tục hoạt động bí mật.
Theo lời nhà thơ kể, do sơ suất trong việc chuyển thư, cơ sở của bà bị lộ. Giặc bắt giam cả hai mẹ con.
Trong một cuộc phỏng vấn sau này, Giang Nam kể rằng vợ bị biệt giam, còn con gái được những nữ tù chính trị chăm sóc. Có thời gian mẹ con bị ngăn cách, không được gặp nhau.
Ở chiến khu, Giang Nam gần như mất liên lạc hoàn toàn với gia đình.
Rồi tin báo tử đến vào năm 1960.
Điều đặc biệt là Giang Nam không viết bài thơ dưới hình thức người chồng khóc vợ. Ông xây dựng câu chuyện một chàng trai yêu cô gái hàng xóm, từ thuở nhỏ đến khi cô tham gia du kích rồi hy sinh.
Nhiều năm sau, chính nhà thơ giải thích rằng hình ảnh cô du kích được xây dựng chủ yếu từ người vợ Phạm Thị Chiều, đồng thời có những nét của các nữ du kích khác ông từng gặp trong kháng chiến.
Bởi vậy, cô gái trong bài thơ có nguyên mẫu ngoài đời, nhưng không phải mọi tình tiết trong thơ đều là tiểu sử của bà.
Bài thơ được chuyển theo đường giao liên ra miền Bắc, đăng trên báo Thống Nhất và giành giải nhì cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ năm 1961.
Khoảng tháng 8/1961, Giang Nam nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ và thông báo giải thưởng. Ông kể rằng mình đã bật khóc khi nghĩ đến vợ con.
Lúc ấy, ông vẫn tin họ đã chết.
Nhưng rồi một ngày, tin tức từ bên ngoài truyền vào chiến khu: Phạm Thị Chiều và con gái vẫn còn sống!
Theo những lời kể được Giang Nam công bố sau này, bà Chiều đã được một luật sư bào chữa trong quá trình xét xử.
Hai mẹ con được trả tự do vào khoảng cuối năm 1961 đến giữa năm 1962.
Nguồn gốc tin báo tử sai đến nay vẫn chưa được xác minh đầy đủ.
Trong một cuộc trò chuyện năm 2017, Giang Nam cho rằng tin ấy có thể đã được tung ra nhằm tác động đến ông, nhưng chưa có hồ sơ độc lập chứng minh một kế hoạch như vậy.
Dù sao, với người chồng từng làm thơ khóc vợ, tin hai mẹ con còn sống là một sự kiện đặc biệt trong cuộc đời.
Ông lại viết thơ, lần này không phải để tiễn biệt mà để đón chờ. Hai bài thơ Ngày mai đi đón em và Con còn sống được ông nhắc đến trong các cuộc phỏng vấn sau này.
Nhưng chiến tranh chưa để gia đình họ được bình yên.
Bà Chiều tiếp tục hoạt động cách mạng rồi bị bắt thêm một lần nữa.
Các nguồn tư liệu chưa thống nhất hoàn toàn về thời điểm, nhưng cơ bản đều thống nhất về thời điểm xảy ra năm 1968.
Phải đến năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, bà mới được trả tự do.
Năm ấy, tại căn cứ Củ Chi, Giang Nam gặp lại vợ và con gái. Một bức ảnh gia đình chụp năm 1973 đã được Báo An ninh Thủ đô công bố năm 2013, sau đó xuất hiện trên nhiều tờ báo khác.
Sau chiến tranh, Phạm Thị Chiều tiếp tục công tác tại địa phương, từng giữ chức Phó Chủ tịch UBND phường Vĩnh Trường, thành phố Nha Trang.
Những năm về sau, bà trở lại với nghề làm nước mắm, buôn bán và chăm lo gia đình.
Còn Giang Nam tiếp tục sự nghiệp văn chương và công tác, có thời gian đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa.
Trải qua những cuộc chia ly, cuối đời hai ông bà sống bên nhau tại ngôi nhà số 46 đường Yersin, thành phố Nha Trang.
Đầu năm 2013, một nhà báo đến thăm gia đình và xin chụp ảnh hai vợ chồng.
Theo bài viết đăng trên Báo Dân Trí ngày 18/4/2013, Giang Nam đứng dậy gọi vợ ra để chụp ảnh.
Ông gọi bà bằng hai tiếng thân thuộc: “Em ơi”.
Khi ấy, người phụ nữ từng được chồng khóc thương trong bài thơ hơn nửa thế kỷ trước vẫn đang ở bên ông.


Nhưng chỉ ít tháng sau, ngày 15/4/2013, bà Phạm Thị Chiều qua đời tại Nha Trang.
Bản thông báo tang lễ đăng trên Báo Khánh Hòa ngày 16/4/2013 ghi rõ tên bà, năm sinh 1931, đảng viên từ năm 1950, cựu tù chính trị, nguyên Phó Chủ tịch UBND phường Vĩnh Trường.
Người đứng tên thay mặt gia đình thông báo tin buồn chính là Giang Nam.
Lần này, tin người vợ qua đời là sự thật.
Nhà thơ Giang Nam sống thêm gần mười năm, mất ngày 23/1/2023.
Hơn sáu thập kỷ sau khi Quê hương ra đời, câu chuyện về Phạm Thị Chiều giúp chúng ta hiểu thêm một số phận có thật phía sau những vần thơ nổi tiếng.
Bà không phải cô gái hàng xóm đã hy sinh như hình tượng trong bài thơ.
Bà là người phụ nữ đã đi qua hai cuộc kháng chiến, làm việc trong tổ chức cách mạng, trải qua tù đày, nuôi con và chờ đợi chồng giữa những năm tháng chiến tranh.
Có một điều thật đặc biệt: Giang Nam từng phải học cách sống khi tin rằng vợ con đã chết. Rồi ông lại có cơ hội được sống cùng họ.
Và người phụ nữ từng bị báo là đã chết ấy, cuối cùng đã được trở về, để người chồng có thể gọi hai tiếng “em ơi” giữa cuộc đời thật, chứ không còn phải gọi trong một bài thơ.

BÀI THƠ " QUÊ HƯƠNG

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích...

***

Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...

***

Hoà bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
Lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa...
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
- Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...

Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn, roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.


1960

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu phổ nhạc.  
-----------
TƯ LIỆU ĐỐI CHIẾU
- Hồi ký Sống và viết ở chiến trường của Giang Nam (NXB Hội Nhà văn, 2004).
- Cuộc phỏng vấn Giang Nam của Trần Đăng trên Báo Đà Nẵng ngày 1/7/2018; Báo Tuổi Trẻ ngày 16/10/2019; Báo Dân Trí ngày 18/4/2013.
- Thông báo tang lễ gia đình đăng trên Báo Khánh Hòa ngày 16/4/2013.
- Các chi tiết về hai lần bị bắt chủ yếu dựa trên hồi ức nhân chứng, chưa có hồ sơ xét xử nguyên bản để đối chiếu.

SƯU TẦM

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét